
Thiên nhiên và khí hậu nhiệt đới nóng – ẩm trong sự cấu thành bản sắc kiến trúc – Gs. Hoàng Đạo Kính
1
Bản sắc kiến trúc cũng như bản sắc văn hóa không phải là cái gì đó thiên bẩm hoặc là một biểu hiện tinh thần hoặc thẩm mỹ đơn thuần nào đó.
Bản sắc là sản phẩm văn hóa đặc trưng, tạo thành bởi sự tác động, sự chi phối và sự tương tác của vô vàn những yếu tố, vật chất và tinh thần, khách quan và chủ quan, của những yếu tố mà không phải tất cả đã dễ dàng gọi tên. Song cùng với những yếu tố ấy, thời gian với tư cách một tiến trình biến hóa, góp phần khuôn đúc và tinh luyện bản sắc thành một thể vừa vật chất và vừa phi vật chất.
Và, đến lượt mình, bản sắc tác động trở lại đối với hầu hết các yếu tố chi phối nó, hợp lực tạo nên những nền văn hóa theo nghĩa rộng, thuộc sở hữu của từng dân tộc hoặc từng tộc người để, rốt cuộc, những nền văn hóa ấy được mệnh danh bằng tên của những chủ thể tạo nên chúng và sở hữu chúng, như văn hóa Việt Nam, văn hóa Trung Hoa, chẳng hạn.
Bản sắc kiến trúc Việt Nam, từ trong ra và từ ngoài vào, trước hết bắt nguồn từ tài nguyên thiên nhiên, từ những đặc điểm khí hậu nhiệt đới nóng – ẩm, từ sự gộp hết tất cả thảy những điều kiện tự nhiên với tư cách là những xuất phát điểm, mà ngày nay ta mệnh danh là sinh thái tự nhiên. Đó là một trong những cơ bản và quyết định nhất cái thể xác và cái linh hồn của ngôi nhà Việt, của kiến trúc Việt Nam. đới nóng – ẩm, từ sự gộp hết tất cả thảy những điều kiện tự nhiên với tư cách là những xuất phát điểm, mà ngày nay ta mệnh danh là sinh thái tự nhiên. Đó là một trong những yếu tố cơ bản và quyết định nhất cái thể xác và cái linh hồn của ngôi nhà Việt, của kiến trúc Việt Nam.
2
Tuy nhiên, chúng ta chớ nên vội vã khẳng định ngôi nhà gỗ Việt là sự sáng tạo thiên tài và chuyên biệt của nền kiến trúc Việt.
Nếu quan sát một cách kỹ lưỡng và cầu thị, hẳn chúng ta sẽ nhận ra rằng, mỗi dân tộc, mỗi tộc người, dù già dặn hay non nớt trong nền văn minh, đều đã kiến tạo cho mình những căn nhà – nơi trú ngụ, duy nhất phù hợp và duy nhất có thể, trong những điều kiện sinh thái tự nhiên, cụ thể.
Ta hãy thử chiêm nghiệm bằng sự ngoái nhìn vào dĩ vãng.
Căn nhà gỗ cổ truyền của người Nhật Bản. Tất cả đều làm bằng gỗ; cấu trúc tạo dạng khung và liên kết bởi mộng mẹo đảm bảo sự uyển chuyển khi động đất và khả năng tái sử dụng; vách nhẹ cấu tạo theo những dạng ô cửa dán giấy khi chưa có kính… Ngôi nhà, cấu thành bởi sự hợp lý và bởi sự có thể duy nhất, tự thân nó đã trở thành vẻ đẹp rồi. Và, thông qua cái lò rèn thời gian, những giải pháp kiến trúc – kỹ thuật và vẻ đẹp ấy trở thành bản sắc, chắc nịch và không nhạt phai. Bất ngờ thay, khi ta nhận ra cái bản sắc cố hữu Nhật ấy ở ngay trên kiến trúc cực kỳ tân tiến của người Nhật hôm nay. Nhật, không lẫn vào đâu được. Song Nhật không bởi sự sao chép, mà bởi sự tiêu hóa nhuần nhuyễn truyền thống để phôi thai vào cái thời nay.
Căn nhà cổ truyền của người Nga và người Phần Lan cũng vậy – một sản phẩm tất yếu đi ra từ những điều kiện cụ thể. Vật liệu cấu thành tuốt tuột là gỗ. Tường và vách dựng lên bằng cách chồng xếp các thân gỗ lên nhau; khe kẽ giữa chúng lèn nhét bởi vỏ cây tán giá nhỏ; gió không luồn vào được. Không gian bên trong thu hẹp ở mức có thể, các lỗ cửa cũng nhỏ hẹp ở mức giới hạn. Bếp lò, vừa để sưởi ấm, vừa để nấu nướng, là thành phần ngự trị trong nhà, đôi khi được trang trí đẹp nhất. Sàn ngủ đặt ngay trên bếp lò. Cái gió, cái rét bị chặn đứng bên ngoài. Cái ấm được ấp ủ và được lưu. Nhà mà như cái ấm ủ.
Nhà làm bằng tường đất nện có độ dày đặc biệt, mái vòm cuốn và những lỗ cửa nhỏ te hé, – mô hình không thể nào phù hợp hơn trong điều kiện khí hậu nóng – khô và thiếu vật liệu xây dựng vùng Trung Cận Đông và Trung Á.
Túp nhà lều tháo dỡ di động của người Mông Cổ là một ví dụ về sự ứng xử và giải quyết, duy nhất phù hợp với điều kiện khí hậu và tự nhiên cùng phương thức sinh sống du mục trên thảo nguyên.
Kiến trúc nơi cư trú cổ truyền của mọi dân tộc, về thực chất, là hàm số của những cái bó buộc. Cái làm được chính là cái có thể từ những bó buộc, không hơn. Xem ra, kiến trúc đích thực thường sinh ra từ những sự bó buộc và từ sự vắt kiệt những cái có thể.
Làm kiến trúc, phải học trước tiên cái khôn, cái lý, cái chừng mực và cái đẹp chính là từ những ngôi nhà ở bình dị mà nhiều kiếp đời người từng sống. Sau mới là học từ những cung điện và đền đài tráng lệ có một không hai, những tuyệt tác kiến trúc.
Khí hậu học kiến trúc, kiến trúc nhiệt đới cũng nên chăng bắt đầu từ nếp nhà cổ truyền ở các làng quê Bắc Bộ, từ nếp nhà vuông và nhà rường của Trung Bộ.
Học các cụ, ta chú tâm không chỉ vào giải pháp và thủ pháp, mà nên xem xét các cụ ứng xử ý tứ như thế nào với Trời, với Đất, các cụ lần tìm thế nào lối ra từ những cái bó buộc và hạn chế.
3
Nếp nhà cổ truyền của người Việt chúng ta với tư cách một sản phẩm của nền văn minh kiến tạo và văn minh sống, trong sự định hình của mình chịu tác động áp đảo bởi yếu tố thiên nhiên nhiệt đới và khí hậu nhiệt đới. Điều này không là ngoại lệ, bên cạnh mô hình cư trú của các dân tộc khác, đương nhiên.
Về phương diện lịch sử, có lẽ khoảng ngót hai thiên niên kỷ trở lại đây tổ tiên chúng ta đã giã từ nếp nhà sàn để chuyển sang nếp nhà đất cùng với sự chuyển dịch địa bàn cư trú. Mô hình nếp nhà đặt trên đất, mang tính hầu như bất biến qua các giai đoạn lịch sử, có hình thái đặc trưng sau đây:
- + Nền đất nện;
- + Cấu tạo cơ bản và ước định tất thảy là bộ khung nhà, đặt lên chân tảng. Các thành phần cấu thành là cột, xà, vì, kẻ, hệ mái. Vật liệu hầu hết có nguồn gốc hữu cơ: gỗ, tre, lá cọ, rơm rạ;
- + Tường chỉ đóng vai trò vách ngăn. Khoảng ngót 200 năm trở lại đây mới xây tường gạch bao ba mặt nhà, song chúng vẫn không hề tham gia chịu lực.
Gỗ là vật liệu có sẵn trong rừng nhiệt đới, trong vườn và đương nhiên nó trở thành vật liệu chủ đạo trong xây cất. Cũng chính vật liệu gỗ quyết định tính chất kiến trúc ngôi nhà Việt.
Có hai cách cấu tạo ngôi nhà gỗ trên thế giới. Cách thứ nhất, xếp chồng những khúc gỗ lên nhau để tạo thành tường chịu lực và vách ngăn,như các dân tộc ở Bắc Âu hoặc ở Nhật Bản thời xa xưa. Đố là kỹ thuật sử dụng gỗ rất nguyên thủy, đặc biệt với gỗ thông, vừa thẳng vừa tròn. Cách thứ hai, cấu tạo ngôi nhà bằng việc tạo dựng hệ khung không gian, gồm những bộ phận cấu thành, liên kết bằng mộng mẹo. Hệ nhà khung phổ biến ở hầu hết các nước Viễn Đông và Đông Nam Á. Sự khác biệt chủ yếu ở cấu tạo bộ vì và ở các mối liên kết.
Ông cha ta lấy bộ khung làm cốt của ngôi nhà, đã tự ràng buộc mình vào những đặc điểm bất biến cơ bản sau đây:
- + Nhà bao giờ cũng có mặt bằng hình chữ nhật;
- + Gian là đơn vị không gian – mặt bằng;
- + Trục chính của ngôi nhà bao giờ cũng chạy qua gian giữa;
- + Kích thước của gian, của khẩu độ và quy mô của bản thân ngôi nhà phụ thuộc vào khả năng chịu lực gánh của gỗ.
Từ những ước định cứng nhắc đó, kiến trúc ngôi nhà truyền thống Việt có những đặc trưng tổng quát sau đây:
- + Bộ khung quyết định tính chất và vẻ đẹp của ngôi nhà;
- + Sau bộ khung, mái nhà là yếu tố quan trọng thứ hai, góp phần quyết định tính chất kiến trúc và vẻ đẹp của ngôi nhà;
- + Tường vách có vai trò thuần túy che chắn, không có vị trí đáng kể trong diện mạo kiến trúc ngôi nhà;
- + Trang trí chủ yếu phù họa theo bộ khung.
Điều hệ trọng bậc nhất, mang tính cơ bản nhất là bộ khung và hệ vì mái đã dẫn tới sự hình thành một không gian thống nhất dưới một mái nhà.
Ở đây diễn ra sự giao hòa tự nhiên giữa việc khai thác các thuộc tính tiềm ẩn trong vật liệu và sự đáp ứng nhu cầu tạo dựng một không gian sống thống nhất.
Chính không gian thống nhất là hiện thân của một tổng thể giải pháp ứng phó, tự nhiên và duy nhất có thể, mà ông cha ta đã tìm ra để tạo cuộc sống dễ chịu trong điều kiện khí hậu nóng và ẩm.
Không gian thống nhất chống lại sự ngưng đọng của không khí, tạo sự lưu thông bên trong căn nhà và hòa nhập dễ dàng với bên ngoài.
Ngôi nhà cổ truyền vì vậy mà có thể mệnh danh là ngôi nhà hô hấp. Nền đất nện lưu thông âm – dương, điều tiết độ ẩm. Vật liệu thở bởi có nguồn gốc hữu cơ. Vách tường che, nhưng không bít. Toàn bộ căn nhà cách biệt ở mức cần thiết với xung quanh, mở ra ở mức có thể vào xung quanh.
Ngày nay ngôi nhà ấy mệnh danh là kiến trúc hữu cơ, kiến trúc phù hợp với khí hậu nhiệt đới nóng – ẩm. Các cụ ta, làm nhà, chỉ cốt sao cho nó bớt nóng bức, bớt ẩm thấp.
Quan sát kiến trúc nhà ở truyền thống Bắc Bộ, nhận ra nó lưỡng tính, – do phải đối phó với cái lạnh giá mùa đông, nó không thể có dạng phong phanh như căn nhà của người dân Nam Bộ, nó phải bổ sung những cấu trúc che chắn, cố định hoặc tạm thời.
Căn nhà vuông ở Bắc Trung Bộ, một gian hai chái, mặt bằng hầu như vuông, có lẽ là để chống những cơn gió Lào và để đứng vững hơn trước giông bão.
Sự ứng phó với khí hậu nóng – ẩm còn thể hiện rõ rệt trong cấu trúc không gian ở của một gia đình Việt chốn thôn quê. Cấu trúc điển hình là:
- + Nếp nhà chính;
- + Các nếp nhà phụ;
- + Cái sân;
- + Cái vườn;
- + Cái ao.
Mỗi một thành phần nêu trên, ngoài những công năng chính mà từ đó chúng được gọi tên, đều tham gia vào một chu trình điều tiết vi khí hậu. Sân là không gian chuyển tiếp, qua hàng hiên, vào nhà. Ngoài chức năng phơi phóng, nó còn là nơi tụ tập, đặc biệt là nơi hóng mát.
Vườn, cho rau và trái quả, củi và thậm chí vật liệu xây dựng, là cái ắc-quy lưu giữ độ mát cho toàn bộ không gian sống của gia đình.
Cái ao là thành phần “sinh thái” rất đặc biệt trong kiến trúc của người Việt chúng ta: Đào ao lấy đất đắp nền nhà, làm nơi thoát nước mưa, thả cá, thả bèo, tắm giặt, ngâm tre, lấy bùn bón cây… Hơn thế nữa, ao đóng vai trò điều tiết vi khí hậu.
Từ căn nhà đến khuôn viên, ông cha ta đã tạo nên cả một loạt những giải pháp và biện pháp ứng phó với điều kiện khí hậu nóng – ẩm, sử dụng cả các thủ pháp kiến trúc lẫn các thủ pháp cấu trúc không gian, tạo cuộc sống dễ chịu trong những sự bó buộc và hạn chế khó bề vượt qua. Cũng từ đó ta hiểu các cụ:
- + Ứng phó chứ không phải đối phó, càng không phải đối chọi;
- + Sống, đời đời kiếp kiếp, mà không gây tổn thương cho thiên nhiên.
Ngắm về cốt lõi kiến trúc dân tộc, ta đi đến nhận xét hết sức tự nhiên: Ông cha ta, sản sinh ra kiến trúc phù hợp với thiên nhiên, với khí hậu nhiệt đới nóng – ẩm, về thực chất đã tạo ra những tiền mẫu cho nền kiến trúc sinh thái. Tuy nhiên, trong đầu các cụ chưa hề lớn vớn cái khái niệm tân kỳ này.
Chỉ sau một đến hai thế kỷ công nghiệp hóa cậm cụi, chỉ sau một cuộc đại đối đầu với thiên nhiên, chúng ta mới hiểu ra rằng sự tồn sinh phụ thuộc ở thái độ đối với thiên nhiên. Thái độ ấy không thể cứng rắn mà là nhún nhặn.
4
Ở các đô thị nước ta, hiện hữu một khối lượng khá lớn các công trình kiến trúc xây dựng thời Pháp thuộc. Trong số đó có rất nhiều tòa nhà và biệt thự là những bằng chứng sờ thị về sự thành công của người Pháp trong việc thích ứng kiến trúc, vốn đã định hình, vào những điều kiện nhiệt đới nóng – ẩm của xứ thuộc địa.
Thoạt đầu đặt chân lên đất nước ta, người Pháp đã du nhập một cách khô cứng hai kiểu mẫu kiến trúc có sẵn: kiến trúc trại lính và kiến trúc tòa nhà công sở. Qua thời gian, họ đã nhận ra và xác định rõ những khác biệt giữa những vùng nhiệt đới. Cũng ở gần đường xích đạo, song ở bờ Nam Địa Trung Hải thì là nóng – khô, còn ở Đông Dương thì là nóng – ẩm. Và kiến trúc bản địa cũng khác nhau tương ứng. Mọi tìm tòi của họ hướng vào sự đối phó với độ ẩm cao, với bức xạ, với nóng nực, với những cơn mưa rào nhiệt đới.
Sử dụng những hình thức kiến trúc và kỹ thuật xây dựng Âu châu, người Pháp trong vài ba chục năm đã kịp tạo nên kiến trúc thuộc địa xứ nhiệt đới nóng – ẩm có sắc thái riêng. Họ áp dụng rộng rãi những giải pháp và thủ pháp, mà ngày nay đôi khi chúng ta xem thường hoặc lãng quên. Đó là:
- + Dành hẳn tầng trệt, thường cao dưới 2 mét, vào mục đích chống ẩm thấp và thông gió;
- + Sử dụng hệ hành lang bao quanh nhà nhằm chống bức xạ và tránh mưa hắt. Thời kỳ đầu họ làm hành lang bao quanh nhà, sau này họ đã biết, chỗ nào cần bố trí hành lang, chỗ nào thì hiên hoặc ban công;
- + Dành nhiều diện tích cho ban công, lô-gia, véranda, mái hiên, nhà cầu, v.v…
- + Chú trọng đặc biệt đến khả năng thoát nước và thoát nhiệt của hệ mái; Sử dụng hết sức thành thạo những kết cấu chống bức xạ mặt trời;
- + Tường nhà được thiết kế có độ dày khá lớn cùng với các ô cửa có kích thước vừa phải, với hệ cửa panô và cửa chớp đảm bảo cho các gian phòng vừa giữ được độ mát mẻ, vừa thông thoáng khi không khí oi bức.
Chỉ với những giải pháp thích ứng và đối phó ấy, cùng với cái quạt trần, những người từ xứ sở phương Bắc băng tuyết đã tạo cho mình cuộc sống khá dễ chịu.
Điều cần nhận ra là chính việc lồng ghép khéo léo các giải pháp, thủ pháp ứng phó với khí hậu nóng – ẩm vào các khuôn mẫu kiến trúc Âu châu, mà họ làm chủ thật sự, người Pháp đã tạo lập được diện mạo đặc trưng cho kiến trúc thuộc địa của mình.
Dựa vào những biểu hiện thành công trong nền kiến trúc này, bắt nguồn một phần từ sự hiểu sâu xa đặc điểm khí hậu và chuyển tải chúng vào kiến trúc, mà có người đã đưa ra nhận định về sự xuất hiện phong cách kiến trúc Đông Dương.
Ở kiến trúc thời Pháp thuộc, có hai điều đặc biệt đáng để chúng ta học tập, đó là văn hóa kiến trúc và sự tài tình về phương diện thích ứng kiến trúc vào điều kiện thiên nhiên – khí hậu cụ thể.
5
Kiến trúc là những cơ thể cứng động. Nó không bao giờ có được những thuộc tính của là phôi con người. Tạo ra những cơ chế “mềm” trong cơ thể kiến trúc “cứng” chính là bởi việc sử dụng các giải pháp, biện pháp và thủ pháp ứng phó mang tính chất hoặc ngăn trở hoặc hòa đồng với xung quanh, một sự tiến sát thuộc tính hữu cơ của vạn vật, nằm gọn trong hai chữ: khép và mở. Kiến trúc, phù hợp với cơ thể và cuộc sống con người xưa nay, bao giờ cũng đi trên con đường ấy.
Duy thế kỷ qua, do quá tin vào khả năng cải tạo, thậm chí chinh phục Tự nhiên, khả năng tạo tiện nghi sống theo ý muốn, ưu việt hơn những gì Trời cho, mà con người đã “hộp hóa” kiến trúc, lấy máy móc và thiết bị thay thế những cơ chế ứng phó mềm mà văn minh kiến tạo đã sản sinh ra.
Con người sa vào cái vòng luẩn quẩn do chính bản thân mình tạo nên, phung phí tài nguyên không thương xót, hao tốn nghìn vạn tỷ đồng để
tạo lẫy nên những thiên nhiên nhân tạo vĩ mô… Lẽ nào chúng ta không dành một phần những chi phí đó cho việc tìm kiếm mô hình kiến trúc tự điều tiết, tự thích ứng, mang lại sự dễ chịu lành mạnh, mà không cần tiêu phí điện năng, không gây tổn thương cho Tự nhiên?
Nhiệt đới hóa, sinh thái hóa kiến trúc và những sự “hóa” nào đó đều xuất phát từ điều kiện và khung cảnh Đất Trời cụ thể, từ sự ứng phó với độ nóng và độ ẩm của khí hậu. Và, chính sự thích ứng và ứng phó sát sao và linh hoạt, vật chất hóa trong kiến trúc, sẽ đem lại cho nó một phần cái mà ta tâm tưởng – bản sắc.
Năm 2005 – Văn hóa Kiến trúc








