
Kiến trúc mang tính Hiện đại và tính Dân tộc – Kts. Tạ Mỹ Duật
Một anh bạn đã nói với tôi khi đề cập đến tính hiện đại và tính dân tộc trong kiến trúc: “Việc này phải xem xét đến những gì cụ thể đã xây, vì nói sao cũng chỉ là trừu tượng”. Tất nhiên đây là vấn đề của thực tế, song cũng là vấn đề của nhận thức. Vai trò ý thức là hết sức quan trọng. Mác đã nói, đại ý là có những con ong đã làm cho nhiều kiến trúc sư phải hổ thẹn vì cái tổ của nó, nhưng ngay những con ong tài giỏi nhất cũng không thể so với người kiến trúc sư kém cỏi nhất. Trước khi xây dựng một ngôi nhà trong thực tế, người kiến trúc sư đã xây nó một lần ở trong đầu rồi. Nhận thức đúng đắn rồi, kết quả còn tùy thuộc vào khả năng sáng tác của người nghệ sĩ. Có nhiều vấn đề mới. Chúng tôi xin nêu lên đây một số ý kiến để thử tìm một khái niệm về các mặt này:
- Tính hiện đại
- Tính dân tộc
- Thể hiện tính hiện đại truyền thống.
1. Tính hiện đại trong kiến trúc là kết quả của quá trình sáng tạo nghệ thuật kiến trúc trên cơ sở khoa học và kỹ thuật hiện đại. Hàng nghìn năm lịch sử, kiến trúc không chuyển biến nhanh bằng khoảng trên nửa thế kỷ gần đây. Vật liệu từ ngàn năm đá, gạch, gỗ đã nhường trước phần lớn cho bê tông, sắt thép, hợp kim nhẹ, chất dẻo… Lịch sử đã chứng minh mỗi sự thay đổi về vật liệu và kỹ thuật xây dựng thường dẫn đến sự thay đổi về phong cách kiến trúc. Giai đoạn gạch đã chuyển sang bê tông, sắt thép, là một bước tiến khá dài. Khẩu độ, chiều cao, mảng tường vv… đã vượt xa ngoài khuôn khổ cũ. Ngay nay người kiến trúc sư có thể tạo nên một mặt phẳng hoàn hảo, long lanh, phản chiếu thiên nhiên vào ngôi nhà, thể hiện lên không gian ba chiều, mà trước đây những khối kiến trúc tường dày cột mập không đạt được. Yếu tố mới xuất hiện đem lại khá nhiều khả năng truyền cảm.
Mục tiêu nghiên cứu khoa học kỹ thuật là đạt được năng suất tối đa. Công nghiệp hóa xây dựng đòi hỏi càng giảm đi khối tích trọng lượng càng mang lại hiệu quả kinh tế cao. Kiến trúc hiện đại mang tính chất thanh nhẹ. Một khung cảnh kiến trúc nguy nga trước đây mang hình dáng nặng nề chắc nịch. Ngày nay kiến trúc nguy nga kia mang theo phong thái nhẹ nhàng mà vẫn vững chắc.
Thể hiện cái hiện đại, không phải là sao chép tạp chí hoặc tìm tòi đường nét “tân kỳ” như đã thấy rải rác đôi nơi. Phải nói lên được bản chất của công trình và cần có phong cách nhẹ nhàng giản dị. Chính cái đơn giản này đòi hỏi hình khối đường nét tỷ lệ… không được thô kệch mà càng phải tinh tế và hoàn mỹ.
Nhiều công trình ngày nay mọc lên một cách thanh thoát, gây ấn tượng dường như không có sự vất vả gì. Cầu vắt qua sông, nhà tháp vươn cao… thể hiện sức vận động của máy móc nhiều hơn lao động con người, tiềm tàng một lực nội tâm lớn lao để chịu đựng nổi bất kỳ một sức nặng nào.
Ngày nay, công trình đòi hỏi tỉnh chính xác cao. Kiến trúc ngày một gắn với định luật vật lý, đáp ứng điều kiện kiến tạo và thi công mới. Kiến trúc phải rất thật. Tính chân thật trong kiến trúc chẳng những là yêu cầu về kỹ thuật, mà còn là yêu cầu về tư tưởng.
Đường nét chạy ngang, dọc, đứng, các mặt bằng phẳng, tầng gác, nhịp điệu đồng đều, quy cách tiêu chuẩn hóa… tất cả được dựng lên không chỉ do yêu cầu kinh tế và kỹ thuật, mà mặt khác, ở đây ta thấy một khung hướng chung là đem lại sự đồng đều công bằng và bình đẳng trong đời sống hàng ngày.
Một yếu tố của kiến trúc hiện đại là thể hiện lên tinh thần dân chủ và tập thể trong cuộc sống. Giả thử bố cục một tổng thế dây phố. Đây không phải là một dãy nhà đơn điệu nối đuôi nhau, mà còn tùy chỗ mở ra một không gian, vừa nêu lên được chiều sâu của công trình, đồng thời là nơi để cho trẻ em nô đùa, cho khách dạo chơi, cho bà con láng giềng gặp gỡ. Một nơi có cây xanh, bóng mát, có mặt nước trong… một nơi thân mật, ấm cúng, chan hòa ánh sáng màu sắc… Có thể tạo nên nơi đây chẳng riêng là một sản phẩm vật chất, mà là một sáng tác nghệ thuật gợi lên một cảm xúc, một cách nhìn đối với sự vật, gây nên một ấn tượng sâu sắc như khi đọc một tác phẩm ta nhớ mãi nhân vật điển hình.
Kiến trúc hiện dại còn thể hiện lên những thành quả của nhân loại ngày càng ở trình độ cao. Đặc thù của kiến trúc là phải thông qua kỹ thuật mới tạo thành công trình. Những lợi thế về kết cấu mới, về âm thanh ánh sáng, về môi trường, những tìm tòi về sinh thái học, xã hội học… tất cả thể hiện lên tỉnh tổng hợp cao của nghệ thuật kiến trúc hiện đại. Đi vào hiện đại mà không thấy tính chất đồng bộ của công trình thì chẳng khác nào người muốn tạo nên một tác phẩm bê tông mà không biết lý thuyết đàn hối, người mới làm được hai câu thơ đã tưởng mình là thi sĩ.
Yêu cầu đòi hỏi ngày một cao nhưng xu hướng hiện nay và cũng là một hiện thực xã hội lớn, là phải xây theo diện rộng bao quát cả một khu dân cư, một đô thị, một lãnh thổ, kiến trúc ngày nay không đứng một mình mà thâm nhập vào quy hoạch.
Hiện nay, nhiều thứ “chủ nghĩa” ra đời. Để chống lại lề lối cố hữu, người ta tìm tòi một lối kiến trúc hữu cơ (architecture organique). Nhiều đồ án xây dựng đề cao “phương hướng mới” theo “chủ nghĩa hiện đại”, “Chủ nghĩa kết cấu” và “cơ khí” phô trương kỹ thuật. Từ đó đã ra đời một thứ “Chủ nghĩa quốc tế” và “siêu dân tộc” thoát ly mọi ranh giới.
2. Mỗi dân tộc đều có một di sản văn hóa nghệ thuật. Những giá trị tinh thần chung biểu hiện lên một quá trình vận động tiếp thu từ nhiều nguồn và sáng tạo vừa là của riêng dân tộc, vừa là của chung thế giới loài người. Tính dân tộc còn có ý nghĩa quốc tế. Trong cái chung có cái riêng. Mỗi dân tộc đều có quan điểm thẩm mỹ độc đáo của mình. Tính dân tộc là một phạm trù mỹ học và lịch sử. Nó hình thành do đời sống cụ thể và thay đổi cùng với đời sống. Chẳng phải nói chúng ta đều thấy rằng ngày nay muốn xây dựng lên một trụ sở ủy ban nhân dân xã không ai lại còn đi xây như một ngôi đình làng, tô vẽ lên cái mà trước kia gọi là “tứ quý”: long li quy phượng.
Một tiêu chuẩn để đánh giá tính dân tộc trong công trình kiến trúc là vốn truyền thống. Trước hết hãy nhìn những giải pháp của những ngôi nhà dân gian đối với môi trường sống. Ngôi nhà Việt Nam không phải là thiểu những giải pháp để đối phó với thời tiết phũ phàng. Có những ngôi nhà vào trong thấy mát dịu. Mái hắt, hàng hiên “bậc thang trung gian” giữa ngôi nhà và ngoài trời, bức mành di động thấm lọc ánh sáng chói chang, tấm đại, bức phên gấp mở che nắng che mưa, một dàn cây, một bể nước… tất cả tạo nên một không gian tiểu khí hậu êm ả và ấm cúng.
Đi vào nông thôn Việt Nam, khách nước ngoài phải ngỡ ngàng về chất thơ và chất trữ tình của nó. Họ thấy tỏa ra một không khí thanh nhẹ và cảm thấy như mình thâm nhập vào một công viên, mỗi khu xóm là một khu vườn.
Lòng yêu thiên nhiên là một trong những nét trong sáng đẹp đẽ và phong phú của đời sống tinh thần dân tộc ta. Cây cối không chỉ xuất hiện trong những áng văn thơ, mà trong thực tế còn phong phú hơn gấp bội. Thế hiện lên hương sắc bốn mùa của đất nước, ông cha ta đã mang những cảm xúc nghệ thuật của mình cải tạo và bổ sung cho thiên nhiên, khiến cho thiên nhiên trở thành cái gì không phải chết cứng. Chẳng phải không có lý do khi người ta đã đưa vào trụ sở UNESCO ở Paris khu vườn có tính cách Á đông: vườn hoa Nhật Bản.
Hiện nay, nhìn toàn cục các công trình kiến trúc, thì thấy nổi lên nhiều ngôi nhà, nét dân tộc còn mờ nhạt, theo “kiểu quốc tế” chung chung, đặc biệt những ngôi “nhà hộp”. Nhà hộp không phải là hiếm trên thế giới. Song, giống như kết duyên miễn cưỡng, hạnh phúc bên kia gieo bắt hạnh bên này. Nhiều nhà mới xây bị dầm mưa dãi nắng, phơi bày những mảng tường ẩm ướt, hoen ố rêu phong, làm mất đi phần lớn giá trị thẩm mỹ của công trình.
Bình tĩnh mà xét, kiến trúc mới ở nhiều nước do điều kiện kỹ thuật và vật liệu, có những mảng khối lớn vẫn đương đầu nói với mọi thời tiết. Song đối với ta, những loại “hộp” này gây phiền hà không ít cho người sử dụng, nếu không nói đến thẩm mỹ. Cũng chính vì quá trình thực tiễn và sáng tạo làm cho kiến trúc thích ứng với môi trường mà phong cách (style) kiến trúc độc đáo đã hình thành: ở Bắc Âu, nhiều nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết, Trung Cận Đông, Bắc Phi, miền Provence, mién Bretagne nước Pháp… Phong cách không thể vay mượn từ đâu xa, mà xuất phát từ trong lòng cuộc sống dân tộc.
Nhân dân xây dựng chẳng riêng vì một yêu cầu thực dụng mà xây lên với cả một tâm hồn, kiến trúc dân gian bao giờ cũng thiết thực, chân thật, hài hòa với con người và cuộc sống: Nó mang tính dân gian rõ rệt.
Bên cạnh kiến trúc dân gian, ta có kiến trúc dòng bác học. Cung điện, đình chùa miếu mạo nguy nga với các đường trục minh bạch, kích thước gần gũi với tàm người, bên trong có vườn nội thất… tất cả tạo nên một khung cảnh bề thế trang nghiêm, nhưng ấm cúng và thân mật. Văn Miếu, chùa Thày, chùa Bút Tháp, chùa Keo… toàn bộ hình khối uyển chuyển, hài hòa với bầu trời cỏ cây gương nước, làm ta phải suy nghĩ về cách hình tượng không gian trong kho tàng kiến trúc cổ.
Tính dân tộc trong kiến trúc không chỉ nhìn về hình khối đường nét mà còn có chiều sâu. Giản dị và trang nghiêm, thân mật và ấm cúng, thiết thực và lạc quan… ông cha ta đã tạo nên những gì phản ánh trung thực cuộc sống và hợp với tình người. Lối sống sau này tất nhiên có chuyển biến. Song phong cách sinh hoạt tự tại Đông Dương nói lên một khái niệm Việt Nam mà ngày nay một số nước phương Tây sang nghiên cứu tìm tòi thiết kế “ngôi nhà cho ba thế hệ.
Tính dân tộc không những có chiều sâu, mà còn đa dạng trong cách biểu hiện và còn phụ thuộc vào sắc thái địa phương. Hiện nay ta có khả nhiều công trình xây lên ở Hà Nội, nhưng có thể ở Tam Đảo, Đồ sơn, Bãi cháy, hoặc Đắc Lắc, Công Tum… Đồng bào Ê đê, Gia Rai… cũng như Thái, Thổ, Dao… ở mỗi nơi đều có quan điểm thẩm mỹ của mình. Từ Việt Bắc, Tây Nguyên, cho đến đồng bằng sông Cửu Long, miền Nam tận cùng của đất nước, mỗi nơi đều có một bản sắc. Từ những nhà sàn, nhà ròng, nhà trệt… mà nở hoa trên nên kiến trúc hiện đại dân tộc.
Kiến trúc còn có liên quan đến các loai nghê thuật tạo hình: hôi họa, điêu khắc. Bức tranh, pho tượng làm cho ý nghĩa công trình được khẳng định hơn. Song còn một lĩnh vực khác là nghệ thuật hoa văn. Đây là một điêu khắc. Bức tranh, pho tượng làm cho ý nghĩa công trình được khẳng loại hình nghệ thuật độc lập, một yếu tố cơ bản của nghệ thuật thực dụng dễ kết hợp và thống nhất với kiến trúc.
Mỗi dân tộc đều có mô-típ hoa văn được điêu luyện qua nhiều thế kỳ. Hoa văn dân tộc biểu hiện lên một thế giới quan, một thái độ của con người đối với cuộc sống. Đường nét hình học, màu sắc hài hòa của loài muôn… biểu hiện lên một tâm một ước mơ của nhân dân về cái đẹp, về hạnh phúc của con người. Dân tộc ta ở đồng bằng cũng như miền núi có một ngôn ngữ hoa văn khá phong phú để khai thác. Đã có một vài công trình khi xây dựng lên làm cho người ta cảm thấ như có điều gì giống nước nào ở Phi châu, hoặc Nam Dương quần đảo.
Điều đáng nói ở đây là hiện nay ở nông thôn, thị trấn và ngay ở thủ đô ta có những nơi nhà mọc lên, bên cạnh cái giản dị, có khá nhiều cái cấu kỳ, lạm dụng quá đà những họa tiết trang trí rườm rà. Thậm chí có ngôi nhà đã làm trái phép, thiếu thẩm mỹ mà lại còn có đè lên niên hiệu đề khẳng định sự tồn tại của mình. Nông thôn đã và đang xây dựng nhiều, đây là một địa bàn, một mũi nhọn kiến trúc phải vươn tới để phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc qua nhiều thế kỷ.
Nhân dân thích cái đẹp, nhưng phải là cái đẹp giản dị tao nhã, gần gũi với mọi người. Hoa văn không phải là không biến đổi để rồi vĩnh viễn lắp lại vốn xưa. Chúng ta cần dựa vào kinh nghiệm lâu đời của nghệ thuật dân gian mà sáng tạo.
Về mặt thể hiện tính hiện đại và truyền thống, ở đây có mối liên quan giữa ba yếu tố
- Kế thừa và phát huy. Kế thừa cho phép ta phát huy những truyền thống tốt đẹp, phát huy cho phép ta sáng tạo. Mặt phát huy gần với thời đại làm cho tính dân tộc và tính hiện đại có mối liên quan mật thiết, không thể đối lập nhau. Tính hiện đại phải thể hiện được đặc trưng dân tộc trong thời hiện tại, và tính dân tộc cũng đồng thời là tính dân tộc trong thời hiện tại. Hiện đại và dân tộc không phải là một phép cộng giản đơn mà là một sự kết hợp khéo léo tinh vi nhuận nhuyễn và có nghệ thuật để xây nên nến kiến trúc dân tộc hiện đại. Cái mới cái cũ cần phải được hiểu như vậy để không sa vào khung hướng lệ cổ, hoặc chấp và những cái ngoại lai.
- Khoa học kỹ thuật không có biên giới. Chỗ khác là nhân sinh quan. Tiếp thu hiện đại cũng như tiếp thu vốn cũ, đều phải có phê phán và chọn lọc. Chạy theo các trào lưu kiến trúc mới trong khi chưa biết sâu vốn cũ, đang là nhược điểm đối với chúng ta. Mình không biết mình, thì không thể phân biệt được đâu là cái những tinh hoa của người khác.
- Chiều sâu của tính dân tộc bao trùm lên rất nhiều phương diện của giải pháp kiến trúc. Họ đã đi từ cái quy hoạch tổng quát đến từng chi tiết nhỏ nhặt, mà mỗi bước đi đều là sáng tạo. Đúc kết được những sự sáng tạo ấy sẽ cho ta hình dung được một dáng dấp quen thuộc, một hình ảnh kiến trúc Việt Nam kín đáo và tế nhị. Chúng ta nên không nên giới hạn chỗ nào có thể hoặc không thể thể hiện tính dân tộc, mà ngược lại, phải để cho tính dân tộc tan nhuyễn vào từng chi tiết, từng bộ phận của kiến trúc.
Kiến trúc là một hiện thực, đồng thời có nhiệm vụ tạo điều kiện hiện thực cho cuộc sống.

Bảo tàng Hùng Vương, Phú Thọ (Thiết kế trong những năm 1980)
(trích “Tạ Mỹ Duật – Dấu ấn thời gian”)








